PHÔI
THAI HỌC HỆ TIM MẠCH
(Bài
viết dành riêng cho MASCAR, không repost dưới mọi hình
thức)
Hệ
tim mạch là cơ quan trong phôi hoạt động sớm nhất. Máu bắt
đầu lưu thông ở cuối tuần thứ 3 của phôi kỳ.
Phôi trong giai đoạn sớm có đủ chất dinh dưỡng là nhờ sự thẩm thấu các chất
từ nội mạc tử cung bao quanh. Vì phôi lớn rất nhanh , đòi
hỏi sự cung cấp các chất dinh dưỡng và thải bỏ chất thải hiệu quả hơn. Chính vì
vậy, hệ tim mạch phát triển rất sớm và trở thành cơ quan cung cấp chất dinh
dưỡng chủ yếu cho
phôi.
Hệ
tim mạch có nguồn gốc từ trung mô. Các mạch máu ban đầu không phân biệt được
động mạch hay tĩnh mạch. Khi tim bắt đầu co bóp, tùy theo hướng máu chảy, các
mạch máu mới được biệt hóa thành động mạch hay tĩnh mạch và chúng được nối với
nhau bởi những mao
mạch.

Hình
1: Các
mạch máu ban đầu chỉ là các ống trung mô, khi tim bắt đầu hoạt động mới biệt hóa
thành động mạch, tĩnh mạch, mao mạch. Các lớp khác của mạch máu cũng do trung mô
đắp nên.
A. PHÔI
THAI HỌC
TIM
I. Sự
hình thành tim nguyên
thủy
1. Sự
tạo ra ống tim nội
mô

Hình
2:
Diện tim của phôi khoảng
1.4mm
- Ngày
thứ 19
- Ở
diện
tim:
+
Trung bì diện tim tách thành là thành và lá tạng => khoang màng ngoài
tim
+
2 ống tim nội mô hình thành trong lá tạng từ những đám tế bào trung mô tụ đặc
nằm gần nội
bì
Do
sự khép mình của phôi, đĩa phôi lúc mới đầu phẳng, sau gấp sang 2 bên về phía
bụng phôi, vì vậy 2 ống tim ở 2 bên tiến lại gần nhau ở đường dọc giữa, rồi sát
nhập với nhau thành một ống tim duy nhất. Như vậy một ống tim nội mô duy nhất
được tạo ra trong trung mô lá tạng của khoang màng ngoài tim, nằm ở mặt bụng của
ruột
trước.
Lúc
đầu, phần trung tâm của diện tim nằm ở phía trước tấm trước dây sống. Do quá
trình khép mình của phôi, kết quả là ống tim nội mô nguyên thủy và khoang màng
ngoài tim nằm ở phía sau tấm trước dây
sống.


ð Nội
bì tạo thành ống ruột nguyên
thủy
ð Hai
ống tim nội mô sát nhập thành một ống tim nội
mô

Hình
3:Phôi
khép mình
- Đầu
phôi gục về phía
bụng
- Diện
tim và khoang màng ngoài tim xoay
180o
- Ống
tim nguyên thủy và khoang màng ngoài tim nằm ở vùng ngực phía sau tấm trước dây
sống
2. Phát
triển của thành ống tim nội
mô

Hình 4:Phát triển của thành ống tim nội mô
Khi
ống tim nội mô được hình
thành:
- Xuất
hiện chất keo
tim
- Nội
bì tạng bao quanh ống tim tạo nên lớp cơ ngoài tim, lớp trong mỏng hơn lớp ngoài
sau này hình thành nên các valve tim. Lớp ngoài hình thành nên cơ tim và lá tạng
màng ngoài tim (thượng tâm
mạc)
- Tế
bào trung mô nằm sát với nội mô tạo màng trong tim.
- Tế
bào trung mô nằm trên mặt lá tạng sau sẽ tạo ra biểu mô lá tạng của khoang màng
ngoài tim.
Trong
quá trình phát triển, ống tim nguyên thủy lồi dần vào khoang màng ngoài tim.
Ðến tuần thứ 4 của quá trình phát triển phôi, tim có dạng một ống thẳng được tạo
thành bởi những buồng tim thông với nhau, xếp thành một chuỗi dài
gồm 5 đoạn, thứ tự theo hướng đầu
đuôi:
- Hành
động mạch
chủ
- Hành
tim
- Tâm
thất nguyên
thủy
- Tâm
nhĩ nguyên
thủy
- Xoang
tĩnh mạch

Hình
5: Hình
dàng bên ngoài của ống tim nguyên
thủy
5
đoạn này được định ranh giới ở bên ngoài bởi 4 rãnh theo thứ tự: rãnh liên hành,
rãnh hành thất, rãnh thất nhĩ, rãnh nhĩ
xoang.
Trong
quá trình phát triển tiếp theo của ống tim nguyên thủy để trở thành tim vĩnh
viễn, có 3 hiện tượng chính rất quan trọng xảy ra đồng
thời:
- Sự
dài ra và gấp khúc của ống tim nguyên
thủy.
- Sự
bành trướng không đều của các đoạn ống tim nguyên
thủy.
- Sự
tạo ra các vách ngăn của
tim.
II. Sự
dài ra, gấp khúc và bành trướng không đều của ống tim nguyên
thủy
1. Sự
dài ra và gấp khúc của ống tim nguyên
thủy
Do
thể tích của xoang màng ngoài tim cố định, ít phát triển nên khi ống tim phát
triển phải gấp khúc trong khoang. Lúc mới đầu tim là một ống gần
như thẳng, có một phần nằm trong khoang màng ngoài tim (đoạn hành thất). Do 2
đầu của tim được cố định nên khi ống tim nguyên thủy dài ra nó phải gấp khúc
lại, chỗ gấp ở rãnh nhĩ thất phải và rãnh hành thất trái. Do
sự gấp lại, đoạn hành tim và đoạn tâm thất nguyên thủy di chuyển về phía bụng và
về phía đuôi phôi, hơi lệch sang phải. Còn đoạn tâm nhĩ và xoang tĩnh mạch di
chuyển về phía lưng và phía đầu phôi, hơi lệch sang
trái.


Hình
6:Sự
tiến triển và biến đổi hình thể của ống tim (nhìn
bên)
2. Sự
phát triển không đều của các buồng
tim
Trong quá trình
gấp khúc của ống tim nguyên thủy, các đoạn của ống đó bành trướng không
đều:
- Hành
động mạch phát triển thành thân động mạch và nón động mạch.Thân động mạch tạo ra
rễ và đoạn gần của động mạch chủ và động mạch phổi. Nón động mạch sẽ tạo ra phần
phễu của 2 tâm
thất.
- Hành
tim phát triển tạo ra tâm thất phải vĩnh
viễn.
- Tâm
thất nguyên thủy phát triển thành tâm thất trái nguyên thủy vì sẽ tạo ra phần
lớn tâm thất trái vĩnh
viễn
- Ðoạn
nối hành - thất (rãnh hành - thất) vẫn giữ hẹp như lúc đầu, tạo thành các lỗ
liên thất.
- Tâm
nhĩ nguyên thủy phát triển sang 2 bên và ôm lấy đoạn gần bụng hơn của tim, tức
đoạn trên của hành tim và đoạn thân nón động mạch. Rãnh nối nhĩ thất vẫn hẹp như
lúc ban đầu sẽ tạo ống nhĩ thất làm thông đoạn bên trái của tâm nhĩ nguyên thủy
với tâm thất nguyên
thủy.
- Xoang
tĩnh mạch gồm 2 sừng trái và phải được nối với nhau bởi một phần ngang hẹp. Mỗi
sừng nhận máu từ 3 tĩnh mạch: tĩnh mạch noãn hoàng, tĩnh mạch
rốn, tĩnh mạch tim chung (tĩnh mạch chính chung).
+
Trong quá trính phát triển, sừng trái bị tiêu biến một phần , phần còn lại và
phần ngang của xoang tĩnh mạch trở thành xoang
vành.
+
Sừng phải và các tĩnh mạch bên phải tăng kích thước khá mạnh. Sừng phải sát nhập
một phần vào tâm nhĩ phải và lỗ của nó gọi là lỗ xoang
nhĩ.
III. Sự
hình thành các vách ngăn tim
Các
vách ngăn chính của tim được hình thành khoảng từ ngày thứ 27 đến ngày thứ 37
của quá trình phát triển, khi phôi đạt được chiều dài từ 5mm đến 16 - 17
mm.
1. Ngăn
ống nhĩ thất và hình thành các valve nhĩ thất

Hình
7: Ngăn
ống nhĩ
thất
- Tuần
thứ 4 -> cuối tuần thứ
5
- Hình
B: Trung mô tăng sinh đẩy nội mô lên tạo thành gờ nội tâm mạc bụng và
lưng
- Hình
C: 2 gờ tiến tới nhau và sát nhập thành vách trung
gian
- Hình
D: Ống nhĩ thất bị ngăn thành 2: phải và
trái
2. Sự
phát triển của tâm nhĩ và hình thành vách gian
nhĩ
a. Hình
thành vách gian
nhĩ
Sự
ngăn tâm nhĩ nguyên thủy thành 2 tâm nhĩ phải và trái được tiến hành bằng cách
tạo ra lần lượt 2 vách ngăn: Vách ngăn nguyên phát và vách ngăn
thứ phát. Tuy nhiên, trong suốt đời sống phôi thai, 2 vách ngăn ấy không
ngăn cách hoàn toàn tâm nhĩ mà còn để lại một con đường cho phép máu lưu thông
giữa 2 tâm nhĩ để tạo điều kiện cơ bản cho sự tuần hoàn máu phôi
thai.
- Vách
nguyên phát: xuất hiện vào khoảng cuối tuần thứ 4, phát triển từ nóc của khoang
tâm nhĩ về phía vách ngăn ống nhĩ thất để chia buồng nhĩ thành nhĩ phải và nhĩ
trái và một lỗ liên nhĩ gọi là lỗ nguyên phát, nằm giữa vách
nguyên phát đang phát triển và vách ngăn ống nhĩ thất. Sau đó lỗ nguyên phát
được đóng kín do sự phát triển của vách ngăn ống nhĩ thất. Tuy nhiên, trước khi
lỗ nguyên phát được bịt kín, đoạn trên của vách nguyên phát bị tiêu hủy tạo ra
một lối thông liên nhĩ thứ 2 gọi là lỗ thứ
phát.
- Vách
thứ phát (cuối tuần thứ 5): cũng phát triển từ nóc, phía thành bụng của khoang
tâm nhĩ xuống và nằm bên phải vách nguyên phát. Vách thứ phát không bao giờ trở
thành một vách ngăn hoàn toàn, nó có một bờ tự do (bờ dưới). Cuối cùng, bờ dưới
tự do của vách thứ phát phủ lỗ thứ phát làm cho lỗ thông giữa 2 buồng nhĩ trở
thành một khe chéo từ dưới lên trên và từ phải sang trái, khe đó được gọi
là lỗ bầu dục, làm máu lưu thông từ tâm nhĩ
phải sang tâm nhĩ
trái.


Hình
8: Ngăn
tâm nhĩ nguyên
thủy

Hình
9: Máu
từ tâm nhĩ phải qua lỗ bầu dục sang tâm nhĩ
trái
b. Sự
hình thành tâm nhĩ phải và tâm nhĩ trái vĩnh viễn (cuối tuần thứ
6)

Hình
10: Xoang
tĩnh mạch nhận máu từ 3 cặp tĩnh mạch: TM noãn hoàng, TM rốn, TM chính chung;
miệng mở vào giữa tâm nhĩ nguyên thủy, 2 sừng bằng
nhau
- Biến
đổi của xoang tĩnh mạch và các mạch mở vào
nó:
· TM
rốn trái và rốn phải, TM noãn hoàng trái thoái biến -> xuất hiện nhánh nối
qua gan
· Tm
chính trước trái thoái biến -> nhánh nối từ trái qua
phải

Hình
11:
Sừng trái xoang TM nhỏ dần -> Xoang vành; sừng phải xoang TM nở rộng và nhận
máu từ TM chủ trên và TM chủ dưới, Lỗ xoang TM chuyển sang
phải

Hình
12: Biến
đổi của xoang TM và các mạch mở vào
nó
- Hình
thành tâm nhĩ phải vĩnh
viễn
· Sừng
phải xoang TM nở rộng sát nhập vào tâm nhĩ phải nguyên
thủy
· Thành
tâm nhĩ phải vĩnh viễn gồm 2 phần: Phần
nhẵn (nơi có các mạch máu lớn mở vào) do sừng phải của xoang TM
tạo thành; Phần sần sùi có nguồn gốc từ tâm nhĩ
phải nguyên thủy. Ranh giới giữa 2 phần là mào tận
cùng.

Hình
13: Hình
thành tâm nhĩ phải vĩnh
viễn
- Hình
thành tâm nhĩ trái vĩnh
viễn
· Phần
nhẵn, lớn có nguồn gốc từ thân chung tĩnh mạch phổi (Các nhánh còn lại hình
thành 4 tĩnh mạch phổi sau
này)
· Phần
thô, hẹp (tiểu nhĩ trái) có nguồn gốc từ tâm nhĩ trái nguyên
thủy

Hình
14: Hình
thành tâm nhĩ trái vĩnh
viễn
3. Sự
ngăn tâm thất: (tuần thứ 5 –
9)
- Tâm thất phải
(hành tim) và tâm thát trái (tâm thất nguyên thủy) được ngăn cách bởi một vách
gọi là vách liên thất nguyên thủy, xuất hiện ở đoạn đuôi và
ở ranh giới giữa hành tim và tâm thất nguyên thủy. Vách liên thất nguyên thủy
tạo ra đoạn cơ của vách liên thất vĩnh viễn. Sự
phát triển nhanh của vách liên thất nguyên thủy làm hẹp lối thông giữa các tâm
thất và tạm thời tạo ra một lỗ thông liên thất . Lỗ này mau chóng bị bịt lại do
sự phát triển của vách ngăn thân - nón động mạch và vách ngăn ống nhĩ thất về
phía bờ tự do và sát nhập với bờ tự do của vách liên thất nguyên thủy tạo
ra đoạn màng của vách liên thất vĩnh
viễn.
- Sự ngăn thân -
nón động mạch và sự tạo ra van động mạch chủ và van động mạch phổi (van
xich ma):
· Một vách xoắn
225o được hình thành ngăn thân - nón động mạch thành 2
mạch xoắn với nhau là động mạch chủ và thân chung của các động
mạch phổi phải và trái. Sự ngăn thân nón động mạch làm cho tâm thất trái
thông với động mạch chủ, còn tâm thất phải thông với thân chung động mạch phổi
phải và trái và làm cho động mạch chủ và thân chung đó ngăn cách nhau hoàn toàn.
Ở thành bên các mạch này xuất hiện 2 chỗ dày lên tạo thành những gờ. Các gờ này
đến tiếp xúc với vách ngăn xoắn đế tạo ra các van động mạch chủ và động mạch
phổi.


Hình
15: Hình
thành vách liên
thất
Hình
16: Ngăn
thân động mạch


Hình
17: Vách
động mạch chủ - động mạch
phổi

Hình
18: Hướng
máu qua tâm nhĩ trước khi trẻ ra
đời

Hình
19:Tìm
vĩnh viễn gồm 4 buồng, các valve tim đã hình
thành
IV. Sự
hình thành các valve
tim
- Valve
nhĩ thất: tuần thứ
5
- Valve
động mạch phổi và valve động mạch chủ: tuần thứ
9
- Nguyên
tắc
chung
· Mỗi
valve bắt nguồn từ 3 gờ
valve
· 3
gờ valve phát triển thành 3 lá
valve
+
Các lá valve do trung mô đẩy nội mô tạo
thành
+
Giữa các lá valve có các
khe
+
Các lá valve có bờ tự do hướng theo hướng dòng máu
chảy

Hình
20: Sự
hình thành các valve
tim
NHỮNG
BIẾN ĐỔI CỦA TIM NGUYÊN THỦY THÀNH TIM VĨNH
VIỄN


Hình
21: Thời
gian hình thành các phần của
tim
B. PHÁT
TRIỂN
MẠCH
I. Phát triển động
mạch
Ðồng thời với sự
tạo ra ống tim nội mô, trong phôi cũng xảy ra sự hình thành các mạch máu. Những
mạch máu này về cơ bản cũng nảy sinh theo cùng một kiểu như các mạch được tạo ra
ở ngoài
phôi.
1. Cung động mạch
chủ
Những mạch trong
phôi xuất hiện đầu tiên là 2 động mạch chủ bụng. Hai rễ của
động mạch chủ bụng được tạo ra cùng với 2 ống tim nội mô và mỗi rễ nối với một
ống tim. Sau một đoạn ngắn tiến về phía đầu phôi, 2 ống động mạch này cong về
phía lưng rồi phát triển hướng về phía đuôi phôi tạo nên động
mạch chủ lưng. Ở phôi người có 5 cung động mạch chủ, mỗi
cung động mạch nối động mạch chủ bụng với động mạch chủ lưng cùng bên. Những
cung này phát triển không đồng
thời.
- Cung thứ
nhất: cung
này biến đi sớm, chỉ còn sót lại ở mỗi bên một đoạn ngắn sẽ trở thành động mạch
hàm trong.
- Cung thứ
2: biến
muộn hơn, trừ một đoạn ngắn còn lại về sau tạo ra động mạch xương móng và xương
bàn đạp.
- Cung thứ
3: tạo
ra đoạn gần của động mạch cảnh trong. Ðoạn động mạch chủ bụng từ chỗ cung thứ 3
tiến về đầu phôi tạo ra động mạch cảnh ngoài, đoạn nằm giữa cung thứ 3 và cung
thứ 4 tạo ra động mạch cảnh gốc. Ðoạn động mạch chủ lưng nằm giữa cung thứ 3 và
thứ 4 biến
đi.
- Cung thứ
4: cung trái góp
phần tạo quai động mạch chủ, cung phải tạo đoạn gần của động mạch dưới đòn
phải. Ðoạn động mạch chủ nằm giữa các cung thứ 4 và thứ 6 tạo nên thân động
mạch cánh tay đầu ở bên phải và đoạn lên của quai động mạch chủ ở bên
trái.
- Cung thứ
6: đoạn
gần của cung này tạo động mạch phổi, đoạn xa nối với động mạch chủ lưng tạo ống
động mạch. Ống động mạch phải biến đi sớm, ống động mạch trái tồn tại suốt đời
sống phôi thai và sẽ thoái triển thành dây chằng động mạch sau khi trẻ ra
đời.
2. Những động mạch
gian
đốt
Ðộng mạch gian
đốt còn gọi là động mạch gian khúc nguyên thủy là các nhánh bên của động mạch
chủ lưng và được phân làm 3 nhóm ở mỗi
bên:
- Những động
mạch tạng bụng: tưới máu cho ruột nguyên thủy và những cơ quan, bộ phận phát
sinh từ ống đó. Những động mạch này về sau sẽ tạo ra động mạch thân tạng, động
mạch mạc treo ruột trên, động mạch mạc treo ruột dưới, động mạch thực quản, động
mạch phế
quản.
- Những động
mạch tạng bên: tưới máu cho trung bì trung gian. Về sau sẽ tạo ra động mạch
thận, động mạch thượng thận, động mạch hoành dưới và động mạch sinh
dục.
- Những động
mạch tạng lưng: tưới máu cho ống thần kinh, mào thần kinh, thành sau
và thành bên của phôi. Về sau sẽ tạo ra động mạch gian sườn, động mạch thắt
lưng.
3. Ðộng mạch
rốn
Ðộng mạch rốn
được tạo ra từ 2 nhánh của động mạch chủ lưng, những nhánh này tiến về phía
cuống phôi và rau và có quan hệ mật thiết với niệu nang. Sau khi sinh, đoạn gần
của động mạch rốn tạo động mạch chậu trong và động mạch bàng quang trên, đoạn xa
bị bịt lại tạo thành dây chằng rốn - bàng
quang.
II. Phát triển tĩnh
mạch
Ở phôi người 4
mm, vào khoảng tuần thứ 4, có 3 cặp tĩnh mạch được phân
biệt:
- Tĩnh mạch noãn
hoàng: gồm
2 tĩnh mạch noãn hoàng trái và phải, bắt nguồn từ trung bì lá tạng của thành túi
noãn hoàng. Hai tĩnh mạch này dẫn máu từ túi noãn hoàng về tim để đổ máu vào các
sừng của xoang tĩnh
mạch.
- Tĩnh mạch
rốn: gồm
2 tĩnh mạch rốn phải và trái, bắt nguồn từ các nhung mao đệm, dẫn máu có oxy về
tim và cũng đổ vào các sừng của xoang tĩnh
mạch.
- Tĩnh mạch
chính: cấu
tạo bởi những tĩnh mạch trong phôi và gồm 2 tĩnh mạch chính trước phải và trái
nhận máu ở vùng đầu của phôi và 2 tĩnh mạch sau phải và trái nhận máu ở vùng
đuôi phôi.
C. BIẾN
ĐỔI TUẦN HOÀN SAU
SINH
I. Tuần
hoàn
thai
Sự
tuần hoàn máu ở thai khác với sau khi trẻ ra đời chủ yếu bởi máu thai được oxy
hóa không phải ở phổi mà ở rau.
Thai nhận máu có oxy từ rau qua tĩnh mạch rốn, tĩnh mạch rốn dẫn máu đến gan. Một phần lớn máu được đổ trực tiếp vào tĩnh mạch chủ dưới, một phần nhỏ đổ vào các xoang gan và trộn lẫn với máu của tuần hoàn cửa. Tĩnh mạch chủ dưới dẫn máu đổ vào nhĩ phải. Máu từ nhĩ phải hoặc đi xuống thất phải hoặc sang nhĩ trái qua lỗ bầu dục (vì áp lực nhĩ phải lớn hơn nhĩ trái). Từ thất phải, máu vào động mạch phổi, vì phổi chưa hoạt động nên phần lớn máu động mạch phổi qua ống động mạch để vào động mạch chủ. Từ động mạch chủ, một phần máu sẽ đến các tạng và một phần được dẫn theo động mạch rốn đến rau.
Thai nhận máu có oxy từ rau qua tĩnh mạch rốn, tĩnh mạch rốn dẫn máu đến gan. Một phần lớn máu được đổ trực tiếp vào tĩnh mạch chủ dưới, một phần nhỏ đổ vào các xoang gan và trộn lẫn với máu của tuần hoàn cửa. Tĩnh mạch chủ dưới dẫn máu đổ vào nhĩ phải. Máu từ nhĩ phải hoặc đi xuống thất phải hoặc sang nhĩ trái qua lỗ bầu dục (vì áp lực nhĩ phải lớn hơn nhĩ trái). Từ thất phải, máu vào động mạch phổi, vì phổi chưa hoạt động nên phần lớn máu động mạch phổi qua ống động mạch để vào động mạch chủ. Từ động mạch chủ, một phần máu sẽ đến các tạng và một phần được dẫn theo động mạch rốn đến rau.
II. Tuần
hoàn sau
sinh
Khi trẻ ra đời,
tuần hoàn máu có những biến đổi quan trọng và đột ngột do phổi đảm nhiệm chức
năng hô hấp và tuần hoàn rau mất
đi.
- Khi phổi bắt đầu
hô hấp, các phế nang, lòng các mạch máu trong phổi giãn ra,sức cản của các động
mạch phôi giảm xuống đột ngột nên áp lực máu trong tâm nhĩ phải và tâm thất phải
giảm đi, ống động mạch bị bịt lại vì vậy lượng máu chảy qua các mạch phổi tăng
lên nhanh chóng. Kết quả là làm xuất hiện áp lực ở nhĩ trái và làm áp lực ở nhĩ
trái cao hơn áp lực nhĩ phải nên vách nguyên phát bị đẩy về phía vách thứ phát
làm khép lối thông liên nhĩ do lỗ thứ phát và lỗ bầu dục bị bịt
lại
- Sự bịt của các
động mạch rốn xảy ra vài phút sau sinh. Ðoạn xa của động mạch rốn sẽ trở thành
dây chằng rốn bên và đoạn gần sẽ trở thành động mạch bàng quang
trên.
- Sự bịt của các
tĩnh mạch rốn và ống tĩnh mạch xuất hiện ngay sau khi động mạch rốn bịt lại. Sau
khi bị bịt lại, tĩnh mạch rốn sẽ trở thành dây chằng tròn, ống tĩnh mạch sẽ trở
thành dây chằng của tĩnh mạch gan. Ống động mạch bị bịt lại ngay sau sinh, sau
sẽ trở thành dây chằng động
mạch.

Hình 22: Tuần
hoàn thai nhi

Hình
23: Tuần
hoàn sau sinh
CLIP SỰ HÌNH THÀNH TIM THAI
CLIP SỰ HÌNH THÀNH TIM THAI
TÀI
LIỆU THAM
KHẢO
1. PGS.TS
Nguyễn Thị Bình – Phôi thai học hệ tim
mạch
2. Http://www.dieutri.vn –
Hình thành hệ tim mạch phôi
thai
3. Đỗ
Kính – Phôi thai học thực nghiệm và ứng dụng lâm
sàng
bY:
CC (ThẢo
lÊ)




0 nhận xét:
Đăng nhận xét